Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2026? Hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân nộp qua đâu?

Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tiểu mục 2 Mục 2 Phần II Công văn 1296/CT-NVT năm 2026 quy định như sau:

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế có thể chủ động thực hiện quyết toán thuế TNCN mọi lúc, mọi nơi, cơ quan thuế đã triển khai các ứng dụng và dịch vụ điện tử hỗ trợ kê khai, nộp hồ sơ trực tuyến. Cá nhân có thể thực hiện quyết toán thông qua các hệ thống sau:

+ Hệ thống Thông tin giải quyết thủ tục hành chính Cục Thuế – Bộ Tài chính: https://dichvucong.gdt.gov.vn/tthc/homelogin.

+ Ứng dụng eTax Mobile.

+ Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tiểu mục 1 Mục 2 Phần II Công văn 1296/CT-NVT năm 2026 quy định như sau:

Để tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập trong việc kê khai và nộp hồ sơ, tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thể nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN trực tuyến tại hệ thống các ứng dụng, dịch vụ sau:

+ Hệ thống Thông tin giải quyết thủ tục hành chính Cục Thuế – Bộ Tài chính: https://dichvucong.gdt.gov.vn/tthc/homelogin.

+ Thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ, giao dịch điện tử trong lĩnh vực Thuế (T-VAN)

Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2026 là khi nào?

Hạn chót quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 được quy định tại Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019, cụ thể như sau:

Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế

…

2. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm được quy định như sau:

a) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán thuế năm; chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ khai thuế năm;

b) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch đối với hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân trực tiếp quyết toán thuế;

…

Theo đó, hạn chót quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 được quy định như sau:

(1) Ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế

– Trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế: Hạn chót quyết toán thuế TNCN là ngày 31/3/2026 (Thứ Ba).

(2) Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế

– Trường hợp cá nhân trực tiếp quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế: Chậm nhất ngày 30/4/2026 (Thứ 5) cá nhân phải quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Tuy nhiên, lịch nghỉ lễ ngày 30/4/2026 và 1/5/2026 được kéo dài 04 ngày liên tục từ thứ Năm ngày 30/4/2026 đến hết Chủ nhật ngày 03/5/2026. Do đó, hạn chót quyết toán thuế sẽ lùi đến ngày 04/5/2025 (Thứ Hai).

Như vậy, thời hạn quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 là ngày 31/3/2026 đối với trường hợp ủy quyền cho tổ chức quyết toán, hạn chót là 04/5/2026 đối với trường hợp cá nhân tự quyết toán.

NGUỒN: https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/hinh-thuc-nop-ho-so-quyet-toan-thue-tncn-nam-2026-ho-so-quyet-toan-thue-thu-nhap-ca-nhan-nop-qua-da-775366-257694.html

Công an TP.HCM triệt phá đường dây sản xuất, buôn bán xăng giả RON A95

Ngày 3.2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam để điều tra về hành vi sản xuất, buôn bán xăng giả RON A95.

Các bị can gồm: Nguyễn Văn Yên (46 tuổi), Nguyễn Hồng Hải (51 tuổi), Nguyễn Tấn Hiệp (36 tuổi), Nguyễn Thanh Hải (42 tuổi), Trần Văn Đức (55 tuổi), Lê Thị Ngọc Hương (45 tuổi, vợ của Trần Văn Đức), Lê Thanh Tú (40 tuổi) và Phạm Tuấn Dũng (39 tuổi).

Bơm dung môi, phẩm màu pha trộn xăng

Trước đó, sáng 17.1, Tổ công tác Đội 6 Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP.HCM phối hợp các đơn vị nghiệp vụ, kiểm tra đột xuất Trạm xăng dầu Đức Lợi (195 Dạ Nam, phường Chánh Hưng), phát hiện hành vi pha trộn dung môi công nghiệp vào xăng A95 ngay tại bồn ngầm của trạm.

Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện Trần Văn Đức (chủ trạm xăng) cùng Lê Thanh Tú (tài xế xe bồn) đang trực tiếp bơm dung môi SPSOL-PEE và cho phẩm màu vào bồn ngầm chứa xăng A95 nhằm tạo màu sắc giống xăng thật để tiêu thụ ra thị trường. Cơ quan điều tra đã lập biên bản, niêm phong, tạm giữ nhiều tang vật, phương tiện và tài liệu có liên quan để phục vụ công tác điều tra.

Qua điều tra mở rộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, truy xét nguồn gốc dung môi và các đối tượng liên quan khác, qua đó xác định Nguyễn Văn Yên là đối tượng giữ vai trò tổ chức việc pha trộn, sản xuất xăng giả tại bãi tập kết xe bồn ở 818 Nguyễn Duy Trinh (phường Long Trường).

Quá trình điều tra xác định, đây là đường dây sản xuất, buôn bán xăng giả hoạt động có tổ chức, với thủ đoạn mua xăng nền A95 nguyên chất kết hợp dung môi công nghiệp và phẩm màu, pha trộn theo tỷ lệ nhất định nhằm làm tăng thể tích, giảm chất lượng xăng nhưng vẫn giữ hình thức như xăng RON A95 thật. Số xăng giả sau đó được tiêu thụ trực tiếp tại các trạm xăng với giá bán tương đương xăng thật, để thu lợi bất chính.

Đường dây này hoạt động theo hai nhánh chính. Một nhánh do Nguyễn Văn Yên tổ chức, thực hiện việc pha trộn và hoán đổi xăng – dung môi tại bãi tập kết xe bồn ở 818 Nguyễn Duy Trinh, sau đó đưa xăng giả đi tiêu thụ.

Nhánh còn lại do Nguyễn Hồng Hải cầm đầu, trực tiếp cung ứng dung môi, điều phối vận chuyển và tổ chức pha trộn xăng giả ngay tại các cây xăng, trong đó có Trạm xăng dầu Đức Lợi.

Kết quả giám định của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3, xác định toàn bộ số xăng bị thu giữ không đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, không phải là xăng RON A95 theo quy định.

Tiềm ẩn nguy hiểm từ xăng giả

Việc sản xuất, buôn bán và tiêu thụ xăng RON A95 giả không chỉ xâm phạm nghiêm trọng trật tự quản lý kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ đặc biệt nguy hiểm đối với người tiêu dùng và xã hội.

Theo cơ quan chuyên môn, xăng không đạt quy chuẩn kỹ thuật khi sử dụng có thể gây hư hỏng động cơ, giảm công suất, tăng mức tiêu hao nhiên liệu, thậm chí dẫn đến cháy nổ phương tiện, mất an toàn khi tham gia giao thông.

Việc pha trộn dung môi công nghiệp và phẩm màu vào xăng làm thay đổi bản chất, thành phần hóa học của nhiên liệu, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe con người. Hành vi này gây thiệt hại trực tiếp cho người tiêu dùng, làm méo mó thị trường kinh doanh xăng dầu, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh chân chính và uy tín của hệ thống phân phối xăng dầu trên địa bàn.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đã làm rõ vai trò, hành vi phạm tội của từng đối tượng và tiến hành khởi tố, bắt tạm giam để phục vụ công tác điều tra.

Công an TP.HCM đang tiếp tục mở rộng điều tra, truy xét các đối tượng có liên quan, đồng thời làm rõ nguồn cung xăng nền, dung môi và các hành vi vi phạm pháp luật khác để xử lý nghiêm.

NGUỒN: https://thanhnien.vn/cong-an-tphcm-triet-pha-duong-day-san-xuat-buon-ban-xang-gia-ron-a95-18526020318284623.htm

Như thế nào là phạm tội khi vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết?

Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 như sau:

“Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa nhưng thực tế thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (thiệt hại thực tế bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa).

Ví dụ: Khi xảy ra cháy ở cửa hàng, mặc dù đám cháy đã được khống chế nhưng vẫn để lại lượng khói lớn, Nguyễn Văn A là nhân viên cho rằng đám cháy sẽ lây lan sang nhà để xe nên đã phá cửa và tường nhằm mục đích lấy xe máy của mình trị giá 20.000.000 đồng. Hành vi của A đã gây ra thiệt hại thực tế là 100.000.000 đồng, thiệt hại này lớn hơn thiệt hại phải ngăn ngừa nên hành vi của A đã vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết là trường hợp người phạm tội vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền lợi mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa nhưng thực tế thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

NGUỒN: https://baophapluat.vn/nhu-the-nao-la-pham-toi-khi-vuot-qua-yeu-cau-cua-tinh-the-cap-thiet.html

Công ty có được sa thải người lao động đang hưởng án treo không?

Căn cứ Điều 125 Bộ luật Lao động 2019 quy định, hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau:

Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Như vậy, người lao động đang hưởng án treo không thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức kỷ luật sa thải. Do đó, công ty bạn không thể áp dụng hình thức xử lý kỷ thuật sa thải bạn với lý do bạn đang hưởng án treo.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 70 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

1 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo.

Như vậy, nếu sau 1 năm kể từ khi chấp hành xong thời gian thử thách của án treo (thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên sơ thẩm) và chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian trên thì bạn sẽ đương nhiên được xóa án tích.

Bàn về chế định “đặt cọc” trong giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản dùng để đặt cọc là “tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác”. Kim khí quý, đá quý về bản chất là những vật có giá trị. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản gồm 4 loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Như vậy, tài sản dùng để đặt cọc nói chung bao gồm 2 loại là tiền và vật.

Ảnh minh họa

Đối với tiền dùng làm tài sản đặt cọc gồm tiền Việt Nam (đồng nội tệ) và tiền nước ngoài (ngoại tệ). Tiền Việt Nam có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc trong mọi giao dịch giữa cá nhân, pháp nhân với nhau. Ngoại tệ chỉ có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc giữa chủ sở hữu ngoại tệ với tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác được phép giao dịch ngoại tệ mà không được sử dụng để đặt cọc cho cá nhân, pháp nhân khác vì rất có thể sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật (điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Mặc dù Pháp lệnh Ngoại hối do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành không phải là “Luật” nhưng quan điểm liên quan đến sử dụng ngoại hối như trên còn được ghi nhận tại Điều 8 và Điều 105 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo đó, tại Điều 105 quy định “ngoại hối” là một trong các sản phẩm ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài sau khi được chấp thuận bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước. Mặt khác, khoản 2 Điều 8 quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”.

Đối với vật dùng làm tài sản đặt cọc thì không phải tất cả vật đều có thể sử dụng để đặt cọc mà xuất phát từ yêu cầu để có thể bảo đảm được cho việc thực hiện nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng thì chỉ có “vật có giá trị” mới có thể được các bên đồng ý dùng làm tài sản đặt cọc. Đồng thời “vật có giá trị” dùng để đặt cọc cũng phải không thuộc trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập biện pháp đặt cọc.

Tuy pháp luật không cấm việc đặt cọc bằng bất động sản, nhưng so sánh với các quy định về tài sản cầm cố, thế chấp thì có thể hiểu bất động sản cũng không thể là tài sản dùng để đặt cọc.

Hợp đồng đặt cọc có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về đặt cọc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng chính.

Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP đều không có quy định về việc hợp đồng đặt cọc buộc phải lập thành văn bản, công chứng, chứng thực và đăng ký biện pháp bảo đảm, vì vậy, chỉ cần đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng đặt cọc sẽ có hiệu lực ràng buộc trách nhiệm giữa các bên kể từ thời điểm theo các bên thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận thì hợp đồng đặt cọc có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng và phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận đặt cọc nắm giữ tài sản

đặt cọc.

Điểm khác biệt lớn nhất của đặt cọc so với các biện pháp bảo đảm khác là, nếu bên nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ thì phải trả cho bên kia (phạt cọc) gấp đôi số tiền đặt cọc (gồm tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đạt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

NGUỒN: https://baophapluat.vn/ban-ve-che-dinh-dat-coc-trong-giao-dich-dan-su.html

Đất hết thời hạn nhưng không gia hạn thì có bị thu hồi?

Ảnh minh họa

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 172 Luật Đất đai năm 2024, thì thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là rừng trồng trong hạn mức quy định tại Điều 176 của Luật này là 50 năm. Khi hết thời hạn sử dụng đất, thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại điểm này mà không phải làm thủ tục gia hạn.

So với Luật Đất đai 2013 thì Luật Đất đai 2024 không có thay đổi về thời hạn sử dụng đất, thời hạn giao đất vẫn là 50 năm. Tuy nhiên, có điểm mới rất quan trọng so với Luật Đất đai 2013 là khi hết thời hạn sử dụng đất thì người có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại điểm này mà không phải làm thủ tục gia hạn. Đây là quy định mới của Luật Đất đai 2024 nhằm tạo thuận lợi cho người dân và giảm thủ tục hành chính không cần thiết.

Như vậy, trường hợp của bạn là đất nông nghiệp đang trồng rừng sản xuất, trong hạn mức giao đất quy định với thời hạn là 50 năm, dù đã hết thời hạn sử dụng đất cũng không cần phải làm thủ tục gia hạn vẫn không bị thu hồi.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, đối với trường hợp cho thuê đất nông nghiệp đối với cá nhân thì thời hạn là không quá 50 năm. Khi hết thời hạn thuê đất, cá nhân nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét tiếp tục cho thuê đất nhưng không quá 50 năm.

NGUỒN: https://baophapluat.vn/dat-het-thoi-han-nhung-khong-gia-han-thi-co-bi-thu-hoi.html

Thủ tục sang tên sổ đỏ khi bố mẹ mất không để lại di chúc

Khi bố hoặc mẹ mất không để lại di chúc, việc sang tên sổ đỏ được thực hiện theo quy định thừa kế pháp luật.

Nhà đất không để lại di chúc sẽ phân chia thừa kế theo pháp luật

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, bố hoặc mẹ mất nhưng không có di chúc thì nhà đất được thừa kế theo pháp luật.

Đối với hàng thừa kế, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Người dân thực hiện thủ tục sang tên sổ đỏ khi thừa kế nhà đất. Ảnh: Phan Anh

Thủ tục sang tên sổ đỏ thừa kế theo pháp luật

Bước 1: Chuẩn bị giấy tờ công chứng

Trường hợp từ chối nhận di sản thừa kế:

Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản. Khi người thừa kế từ chối nhận di sản để phần thừa kế nhà đất cho người khác thì người thừa kế yêu cầu công chứng văn bản từ chối di sản.

Khi đó, các giấy tờ cần công chứng gồm: Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết.

Trường hợp các bên thoả thuận việc phân chia di sản:

Chuẩn bị hồ sơ công chứng gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở; giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế như giấy khai sinh, sổ hộ khẩu; giấy chứng tử của người để lại di sản; căn cước công dân hoặc hộ chiếu của người thừa kế; văn bản thỏa thuận về việc những người thừa kế đồng ý tặng cho phần thừa kế của mình cho một người.

Bước 2: Kê khai, thực hiện nghĩa vụ tài chính

Đối với trường hợp nhà, đất nhận thừa kế thì khoản lệ phí trước bạ sẽ được miễn. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Thông tư 111/2013/TT-BTC cá nhân nhận thừa kế nhà đất phải khai thuế, lệ phí trước bạ kể cả trường hợp miễn thuế, lệ phí.

Thuế thu nhập cá nhân được tính theo khoản 4 Điều 16 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Cụ thể: Thuế thu nhập cá nhân = 10% x Giá trị bất động sản nhận được.

Lưu ý, chỉ những bất động sản có giá trị lớn hơn 10 triệu đồng mới phải nộp thuế.

Lệ phí địa chính: Tuỳ theo quy định từng địa phương.

Bước 3: Đăng ký biến động.

Sau khi chuẩn bị đầy đủ giấy tờ, người nhận thừa kế nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Bộ phận Một cửa của UBND cấp tỉnh hoặc Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai.

Hồ sơ sau khi được tiếp nhận, nếu đầy đủ giấy tờ sẽ gửi thông tin sang cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính. Người dân nộp tiền theo quy định của cơ quan thuế. Thời gian trả kết quả không quá 10 ngày làm việc, theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Thông tư 10/2024/TT-BTNMT.

NGUỒN: Thủ tục sang tên sổ đỏ khi bố mẹ mất không để lại di chúc

Từ 1/11, không còn cảnh “chạy về quê ký giấy”: Một quy định khiến người dân đi làm giấy tờ nhà đất, di chúc thở phào

Chính phủ ban hành Nghị định số 280/2025/NĐ-CP ngày 27/10/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 07/2025/NĐ-CP.

Theo quy định mới tại Nghị định số 280/2025/NĐ-CP, chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.

Ảnh minh họa

Chứng thực chữ ký là việc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.

Chứng thực giao dịch là việc người có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết giao dịch dân sự, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia giao dịch dân sự.

Mở rộng đối tượng thực hiện chứng thực

Đặc biệt, Nghị định số 280/2025/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung khoản 9 của Điều 2 của Nghị định 23/2015/NĐ-CP theo hướng mở rộng đối tượng thực hiện chứng thực.

Cụ thể, người thực hiện chứng thực là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (Ủy ban nhân dân cấp xã); người được ủy quyền hoặc phân công thực hiện nhiệm vụ chứng thực theo quy định; công chứng viên của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng (tổ chức hành nghề công chứng); viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (Cơ quan đại diện).

Như vậy, so với quy định cũ, Nghị định số 280/2025/NĐ-CP mở rộng thêm đối tượng thực hiện chứng thực là người được ủy quyền hoặc phân công thực hiện nhiệm vụ chứng thực theo quy định.

Sửa đổi quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực

Nghị định số 280/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực theo hướng quy định rõ trách nhiệm đối với từng đối tượng người thực hiện chứng thực. Cụ thể:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền và trách nhiệm:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam liên kết với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận;

b) Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản;

c) Chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài;

d) Chứng thực giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;

đ) Chứng thực giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

e) Chứng thực giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở;

g) Chứng thực di chúc;

h) Chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;

i) Chứng thực văn bản phân chia di sản là tài sản quy định tại các điểm d, đ và e nêu trên.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động chứng thực trên địa bàn.

Việc ủy quyền, phân công thực hiện các việc chứng thực quy định tại khoản 1 và việc ký, sử dụng con dấu khi thực hiện chứng thực được thực hiện theo quy định pháp luật về tổ chức chính quyền địa phương, pháp luật về tổ chức cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan đại diện có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại các điểm a, b và c khoản 1. Viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự ký chứng thực và đóng dấu của Cơ quan đại diện.

4. Công chứng viên có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực các việc quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, ký chứng thực và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.

5. Việc chứng thực không phụ thuộc vào nơi cư trú của người yêu cầu chứng thực thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký;

b) Chứng thực giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;

c) Chứng thực di chúc, chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;

d) Chứng thực văn bản ủy quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở;

đ) Chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch quy định tại các điểm b, c, và d ở mục này.

6. Việc chứng thực các giao dịch liên quan đến quyền của người sử dụng đất được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, việc chứng thực các giao dịch về nhà ở được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà, trừ các trường hợp quy định tại 5.

Không được yêu cầu người yêu cầu chứng thực xuất trình bản chính, bản sao các giấy tờ đã tích hợp trên VNeID

Đồng thời, Nghị định số 280/2025/NĐ-CP cũng bổ sung quy định về nghĩa vụ, quyền của người thực hiện chứng thực.

Nghị định số 280/2025/NĐ-CP quy định thêm: người thực hiện chứng thực không yêu cầu người yêu cầu chứng thực nộp, xuất trình bản chính hoặc bản sao các giấy tờ, tài liệu đã được tích hợp trên VNeID khi người yêu cầu chứng thực đã xuất trình thông tin tương ứng từ VNeID.

Trường hợp người yêu cầu chứng thực đề nghị và người thực hiện chứng thực có thể khai thác thông tin, giấy tờ từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc các cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật thì người thực hiện chứng thực có trách nhiệm thực hiện việc khai thác thông tin, giấy tờ từ các cơ sở dữ liệu này, không yêu cầu người yêu cầu chứng thực xuất trình bản chính, bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao có chứng thực đối với các thông tin, giấy tờ đã được khai thác.

Sửa đổi quy định về trách nhiệm của UBND các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực

Ngoài ra, Nghị định số 280/2025/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 43 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực nhằm đáp ứng yêu cầu khi vận hành tổ chức bộ máy và hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Theo Nghị định số 280/2025/NĐ-CP, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về chứng thực được quy định như sau:

1- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về chứng thực tại địa phương;

b) Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chứng thực cho cán bộ, công chức làm công tác chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã và công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng;

c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật về chứng thực; có biện pháp chấn chỉnh tình hình lạm dụng yêu cầu bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn;

d) Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chứng thực và quản lý nhà nước về chứng thực trong phạm vi địa phương, đáp ứng yêu cầu cung cấp và trao đổi thông tin;

đ) Kiểm tra, thanh tra hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn;

e) Tổng hợp, đăng tải danh sách người ký chứng thực của các Ủy ban nhân dân cấp xã tại địa phương trên Cổng thông tin điện tử hoặc Trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp và cập nhật danh sách này khi có thay đổi;

g) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền;

h) Xem xét việc chuyển giao toàn bộ hoặc một phần việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cho các tổ chức hành nghề công chứng tại những địa bàn cấp xã có ít nhất 01 tổ chức hành nghề công chứng đang hoạt động ổn định, hiệu quả tại thời điểm quyết định việc chuyển giao, tổ chức hành nghề công chứng được phân bố hợp lý, thuận lợi cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu chứng thực tại địa phương;

i) Tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực tại địa phương, báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b, c, d, e, g, h và i và kiểm tra hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về chứng thực trong phạm vi địa bàn cấp xã, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chứng thực theo quy định tại Nghị định này;

b) Tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về chứng thực;

c) Cấp bản sao có chứng thực từ bản chính giao dịch đã được chứng thực;

d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cá nhân, tổ chức và xử lý các vi phạm hành chính liên quan đến chứng thực theo thẩm quyền;

đ) Tổng hợp tình hình và thống kê số liệu về chứng thực báo cáo Sở Tư pháp theo quy định.

Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân phối hợp với Trung tâm Phục vụ hành chính công giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ quy định tại các điểm a, b, và c. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người được ủy quyền hoặc phân công thực hiện nhiệm vụ chứng thực theo quy định phải thông báo mẫu chữ ký được sử dụng khi ký chứng thực cho Sở Tư pháp.

Nghị định số 280/2025/NĐ-CP cũng bổ sung quy định tại Điều 47 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP điều khoản chuyển tiếp theo hướng:

Đối với các giao dịch đã chứng thực tại Phòng Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp xã trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch, sửa lỗi sai sót trong giao dịch đã được chứng thực, việc cấp bản sao có chứng thực từ bản chính giao dịch đã được chứng thực được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã lưu trữ hồ sơ chứng thực giao dịch.

Sổ chứng thực bản sao từ bản chính, sổ chứng thực chữ ký/chứng thực điểm chỉ, sổ chứng thực chữ ký người dịch, sổ chứng thực giao dịch được lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành (ngày 1 tháng 11 năm 2025) tiếp tục được sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2025.

Như vậy, kể từ ngày 1/11/2025, người dân có thể chứng thực bản sao, chữ ký, di chúc, văn bản từ chối nhận di sản hoặc văn bản ủy quyền nhà đất tại bất kỳ UBND xã, phường nào, không còn giới hạn bởi địa bàn cư trú.

Trong khi đó, theo quy định hiện hành tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP chưa quy định rõ việc “không phụ thuộc vào nơi cư trú” đối với tất cả các loại chứng thực.

Do đó, nhiều địa phương chỉ tiếp nhận chứng thực cho người cư trú trên địa bàn, đặc biệt đối với chứng thực di chúc, phân chia di sản hoặc giao dịch liên quan đất đai, nhà ở nhằm thuận tiện cho việc quản lý hồ sơ.

NGUỒN: Từ 1/11, không còn cảnh “chạy về quê ký giấy”: Một quy định khiến người dân đi làm giấy tờ nhà đất, di chúc thở phào

Thẩm quyền của Phòng Thi hành án dân sự khu vực

Tổng cục THADS (cũ, nay là Cục Quản lý THADS) đã ban hành quy trình tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan THADS.

Quy trình có hiệu lực từ ngày 1-7-2025 đến khi Luật THADS (sửa đổi), các văn bản hướng dẫn có hiệu lực thi hành và được ban hành dựa trên Công văn số 3769 ngày 25-6-2025 của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện các nội dung về công tác THADS sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy.

Điều 4 của quy trình đã quy định về thẩm quyền thi hành án. Cụ thể:

Phòng THADS khu vực tổ chức thi hành các vụ việc, bản án, quyết định do Cơ quan THADS tỉnh, thành phố phân công như sau:

– Các vụ việc đang do các Chi cục THADS trong khu vực trước khi sáp nhập tổ chức thi hành

– Các bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của TAND khu vực; bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của TAND tại khu vực đó.

– Bản án, quyết định do cơ quan THADS tỉnh, thành phố nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác đến và được Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan THADS (được ủy quyền) phân công.

– Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án khu vực đó.

– Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, VKSND, Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên (quyết định áp dụng của các cơ quan trên xác định người chưa thành niên ở khu vực đó).

– Các trường hợp khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh, thành phố.

Phòng Nghiệp vụ Tổ chức THADS tổ chức thi hành các bản án, quyết định sau đây:

– Các vụ việc đang do Cục THADS tỉnh, thành phố trước khi sáp nhập tổ chức thi hành

– Bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh cùng địa bàn.

– Các bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh cùng địa bàn.

– Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

– Bản án, quyết định mà có đương sự hoặc có tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về thi hành án.

– Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại.

– Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành mà sau 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành và không khởi kiện tại Tòa án.

– Các trường hợp khác theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh, thành phố.

NGUỒN: https://plo.vn/tham-quyen-cua-phong-thi-hanh-an-dan-su-khu-vuc-post859879.html

Chi tiết nhiệm vụ, thẩm quyền của TAND khu vực

Mới đây, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ban hành Nghị quyết 01/2025 hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các TAND.

TAND khu vực 2 TP.HCM kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của TAND TP Thủ Đức. Ảnh: MT

Theo đó, kể từ ngày 1-7-2025, TAND khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền sau đây:

Sơ thẩm vụ án, vụ việc; giải quyết vụ việc phá sản và các vụ việc khác

Thứ nhất, TAND khu vực sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 268 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 99/2025/QH15.

Cụ thể, TAND khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đến 20 năm tù (trước đây là đến 15 năm tù với TAND cấp huyện).

Thứ hai, sơ thẩm vụ việc dân sự quy định tại Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) vụ án hành chính quy định tại Điều 31 của Luật Tố tụng hành chính đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 và các vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

Đối với vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, vụ án hành chính về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND khu vực thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 81/2025.

Thứ ba, giải quyết vụ việc phá sản quy định tại Điều 8 của Luật Phá sản đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15.

Phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND khu vực đối với vụ việc phá sản theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15.

Thứ tư, sơ thẩm vụ án hành chính, vụ việc dân sự; giải quyết vụ việc phá sản và các vụ việc khác thuộc thẩm quyền của TAND khu vực mà TAND cấp tỉnh đã nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trước ngày 1-7-2025.

Thứ năm, sơ thẩm vụ án, vụ việc; giải quyết vụ việc phá sản và các vụ việc khác mà TAND cấp huyện đã thụ lý nhưng chưa giải quyết xong.

Thứ sáu, sơ thẩm vụ án, vụ việc mà bản án, quyết định của TAND khu vực, TAND cấp huyện bị hủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Giải quyết vụ việc phá sản mà quyết định của TAND khu vực, TAND cấp huyện bị hủy để giải quyết lại.

Thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án

– Tổ chức thực hiện hoạt động hòa giải, đối thoại theo Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.

– Tổ chức thực hiện hoạt động hòa giải, đối thoại theo Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án mà TAND cấp tỉnh đã nhận đơn trước ngày 1-7-2025 nhưng chưa tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

– Tiếp nhận số lượng Hoà giải viên TAND cấp tỉnh chuyển về TAND khu vực.

– Hòa giải viên được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ tại TAND cấp tỉnh tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại tại TAND khu vực trên cùng phạm vi địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh với TAND cấp tỉnh đó cho đến khi hết nhiệm kỳ Hòa giải viên. Chánh án TAND cấp tỉnh quyết định số lượng Hòa giải viên tại từng TAND khu vực cho đến khi bổ nhiệm Hoà giải viên mới tại TAND khu vực.

Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND, việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Giải quyết vụ việc bắt giữ tàu bay, tàu biển

Giải quyết vụ việc bắt giữ tàu bay, tàu biển thuộc thẩm quyền của TAND khu vực mà TAND cấp tỉnh đã nhận đơn yêu cầu trước ngày 1-7-2025 nhưng chưa thụ lý.

Thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp

– Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài theo quy định của pháp luật; yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài mà TAND cấp tỉnh ủy thác cho TAND cấp huyện trước ngày 1-7-2025 nhưng chưa giải quyết xong.

– Giải quyết theo thủ tục sơ thẩm yêu cầu dẫn độ, yêu cầu chuyển giao hoặc tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật.

– Yêu cầu ủy thác tư pháp về dân sự của nước ngoài, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm yêu cầu dẫn độ, yêu cầu chuyển giao hoặc yêu cầu tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà TAND cấp tỉnh đã nhận được yêu cầu trước ngày 1-7-2025 nhưng chưa thụ lý.

TAND khu vực kế thừa quyền, trách nhiệm của các TAND cấp huyện theo quy định của pháp luật; giải quyết các vụ việc, thực hiện nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền của TAND khu vực theo quy định của pháp luật.

NGUỒN: https://plo.vn/chi-tiet-nhiem-vu-tham-quyen-cua-tand-khu-vuc-post858702.html