quoc-tich-Viet-Nam

Điều kiện, trình tự thực hiện thủ tục trở lại quốc tịch Việt Nam

Trong một số trường hợp, người đã mất quốc tịch Việt Nam có thể được cho phép trở lại quốc tịch Việt Nam. Các điều kiện và thủ tục này hiện nay được tiến hành thế nào?

       1. Các trường hợp được trở lại quốc tịch Việt Nam

Việc trở lại quốc tịch Việt Nam quy định tại Điều 23 Luật quốc tịch Việt Nam 2008, được hướng dẫn bởi Nghị định 16/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/02/2020, cụ thể như sau:

– Người đã mất quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 26 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có thể được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

+ Xin hồi hương về Việt Nam;

+ Có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam;

+ Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam (phải là người được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó trên cơ sở hồ sơ, ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan và quy định của pháp luật chuyên ngành);

+ Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (phải là người có tài năng thực sự vượt trội trong lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, y tế, giáo dục, đã dành được giải thưởng quốc tế, huân chương, huy chương hoặc được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ xác nhận về tài năng và có cơ sở cho thấy việc người được trở lại quốc tịch Việt Nam sẽ đóng góp tích cực, lâu dài cho sự phát triển lĩnh vực nói trên của Việt Nam sau khi được trở lại quốc tịch Việt Nam);

+ Thực hiện đầu tư tại Việt Nam ( phải có dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó);

+ Đã thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập quốc tịch nước ngoài (phải có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp xác nhận rõ về lý do không được nhập quốc tịch nước ngoài. Trong trường hợp không được nhập quốc tịch nước ngoài là do lỗi chủ quan của người đó thì phải có văn bản bảo lãnh của một trong những người là cha, mẹ, vợ, chồng, con hoặc anh, chị, em ruột là công dân Việt Nam đang thường trú tại Việt Nam, kèm theo đơn của người đó tự nguyện về cư trú tại Việt Nam).

– Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

– Trường hợp người bị tước quốc tịch Việt Nam xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải sau ít nhất 5 năm, kể từ ngày bị tước quốc tịch mới được xem xét cho trở lại quốc tịch Việt Nam.

– Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải lấy lại tên gọi Việt Nam trước đây.

– Người được trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người:

+ Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

+ Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;

+ Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây thì được coi là trường hợp đặc biệt để trình Chủ tịch nước xem xét việc cho trở lại quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài:

+  Có đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam;

+ Việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó khi trở lại quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật của nước ngoài đó;

+ Việc thôi quốc tịch nước ngoài dẫn đến quyền lợi của người đó ở nước có quốc tịch bị ảnh hưởng;

+ Không sử dụng quốc tịch nước ngoài để gây phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân; xâm hại an ninh, lợi ích quốc gia, trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     2. Trình tự thực hiện thủ tục trở lại quốc tịch Việt Nam

– Người xin trở lại quốc tịch Việt Nam phải nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp nơi cư trú.

– Người thụ lý hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ thì hướng dẫn bổ sung, hoàn thiện. Nếu hồ sơ đầy đủ, hợp lệ thì người thụ lý hồ sơ ghi vào Sổ thụ lý và cấp Phiếu thụ lý hồ sơ theo mẫu quy định cho người nộp hồ sơ.

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan Công an cấp tỉnh xác minh về nhân thân của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam.

– Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, cơ quan Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh và gửi kết quả đến Sở Tư pháp. Trong thời gian này, Sở Tư pháp phải tiến hành thẩm tra giấy tờ trong hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam; lập danh mục đầy đủ các giấy tờ trong từng hồ sơ, kèm danh sách những người xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo mẫu quy định.

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh, Sở Tư pháp có trách nhiệm hoàn tất hồ sơ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến gửi Bộ Tư pháp.

– Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì gửi thông báo bằng văn bản cho người đó để làm thủ tục xin thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài (người này phải đáp ứng đủ điều kiện để được coi là trường hợp đặc biệt) hoặc là người không quốc tịch.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy xác nhận thôi quốc tịch nước ngoài của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình đề nghị Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

– Nếu xét thấy hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam chưa đầy đủ, người xin trở lại quốc tịch chưa đáp ứng đủ điều kiện trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng gửi cho Sở Tư pháp để hướng dẫn người xin trở lại quốc tịch bổ sung hồ sơ và hoàn thiện đủ điều kiện. Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp có văn bản hướng dẫn người xin trở lại quốc tịch bổ sung hồ sơ và hoàn thiện đủ điều kiện.

Đối với trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài mà không có đủ giấy tờ chứng minh thuộc trường hợp đặc biệt theo quy định, Bộ Tư pháp có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để yêu cầu người đó tiến hành thôi quốc tịch nước ngoài.

Trong thời hạn 9 tháng, kể từ ngày Bộ Tư pháp có văn bản thông báo mà người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không bổ sung được hồ sơ, không hoàn thiện đủ điều kiện hoặc không nộp văn bản của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho thôi quốc tịch nước ngoài, thì được coi là người đó không tiếp tục xin trở lại quốc tịch Việt Nam và Bộ Tư pháp trả lại hồ sơ. Thời hạn 9 tháng không tính vào thời hạn giải quyết hồ sơ.

Khi xem xét hồ sơ xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại Điều 14 của Nghị định số 16/2020/NĐ-CP, nếu thấy hồ sơ phức tạp hoặc liên quan đến an ninh chính trị, Bộ Tư pháp lấy ý kiến của bộ, ngành liên quan trước khi báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy xác nhận thôi quốc tịch nước ngoài của người xin trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình đề nghị Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

– Trường hợp người xin trở lại quốc tịch Việt Nam xin giữ quốc tịch nước ngoài thuộc trường hơp đặc biệt được giữ quốc tịch nước ngoài hoặc là người không quốc tịch thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra lại hồ sơ, nếu xét thấy người xin trở lại quốc tịch Việt Nam có đủ điều kiện được trở lại quốc tịch Việt Nam thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ ký Tờ trình trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

– Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước xem xét, quyết định.

– Sau khi có Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam của Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước gửi đăng Công báo, Bộ Tư pháp đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tư pháp.

– Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp gửi thông báo kèm bản sao Quyết định cho người được trở lại quốc tịch Việt Nam, đồng thời gửi cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thụ lý hồ sơ để theo dõi, quản lý, thống kê các việc đã giải quyết về quốc tịch.

Trường hợp người được trở lại quốc tịch Việt Nam mà trước đó đã ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh việc thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam, thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp hoặc Cơ quan đại diện, nơi đã đăng ký hộ tịch của người đó để ghi chú hoặc hướng dẫn ghi chú vào sổ hộ tịch Nội dung ghi chú gồm: số Quyết định; ngày, tháng, năm ban hành Quyết định; nội dung Quyết định; cán bộ thực hiện ghi chú phải ký, ghi rõ họ tên và ngày tháng năm ghi chú. Trường hợp việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại Cơ quan đại diện mà sổ hộ tịch đã chuyển lưu tại Bộ Ngoại giao thì Bộ Ngoại giao thực hiện ghi chú.

– Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày có Quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, Bộ Tư pháp thông báo cho Bộ Công an để chỉ đạo cơ quan Công an có thẩm quyền đăng ký cư trú, cấp Hộ chiếu Việt Nam, Căn cước công dân cho người được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật.

DCIM101MEDIADJI_0736.JPG

Doanh nghiệp bất động sản vui mừng vì Nghị định 08/2023/NĐ-CP

Ngày 6.3.2023, sau 1 ngày Chính phủ ban hành Nghị định 08, Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) đã phát đi tin mừng gửi đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và cộng đồng doanh nghiệp.

HoREA cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp nhiệt liệt hoan nghênh và trân trọng cảm ơn Bộ Tài chính và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 08 theo thủ tục rút gọn, có hiệu lực ngay kể từ ngày ký ban hành 5.3.2023. Qua đó xây dựng được khuôn khổ pháp lý để xử lý vấn đề trái phiếu doanh nghiệp, trong đó có trái phiếu doanh nghiệp bất động sản.

Đây là căn cứ pháp luật để doanh nghiệp phát hành trái phiếu thực hiện đàm phán với nhà đầu tư trái phiếu (trái chủ). Nhất là nhà đầu tư cá nhân về kéo dài kỳ hạn của trái phiếu trong thời gian tối đa không quá 2 năm hoặc thanh toán gốc, lãi trái phiếu đến hạn bằng tài sản khác trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện, tuân thủ quy định của pháp luật dân sự. Nghị định cũng bảo vệ quyền lựa chọn của trái chủ thiểu số, kể cả trường hợp thay đổi điều kiện, điều khoản của trái phiếu đã được người sở hữu trái phiếu đại diện từ 65% tổng số trái phiếu trở lên chấp thuận.

Quy định việc đàm phán đòi hỏi sự thiện chí, chân thành và tinh thần hợp tác của cả hai bên vì sự tồn tại của doanh nghiệp và vì quyền lợi của trái chủ. Trước hết là tạo điều kiện và cơ hội để doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, tiếp tục làm ra tiền để trả nợ trái chủ. Đồng thời trái chủ cũng thể hiện sự đồng hành với doanh nghiệp trên tinh thần thấu hiểu và chia sẻ trong lúc khó khăn.

Quy định việc đàm phán sẽ tốn nhiều thời gian để doanh nghiệp đạt được thỏa thuận với các trái chủ. Tuy nhiên vẫn có thể có trường hợp không đạt được thỏa thuận với một số ít trái chủ. Nhưng việc đàm phán nếu được cả hai bên thực hiện với sự thiện chí, chân thành và tinh thần hợp tác sẽ là phương thức tối ưu, như những người đang cùng nhau chèo chống trên cùng một con thuyền để vượt qua phong ba bão táp.

Nghị định 08 cho phép doanh nghiệp và trái chủ thỏa thuận thực hiện phương thức “hàng đổi hàng”. Đổi trái phiếu (cả gốc và lãi) lấy tài sản khác như: căn hộ, nhà phố, biệt thự, đất, cổ phần, cổ phiếu, giấy tờ có giá… theo nguyên tắc doanh nghiệp phải tuân thủ quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp phải công bố thông tin bất thường và chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng pháp lý của tài sản sử dụng để thanh toán gốc, lãi trái phiếu, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của trái chủ nhằm hạn chế phát sinh khiếu kiện, tranh chấp sau này.

Ngoài ra, Nghị định số 08 quyết định ngưng hiệu lực thi hành đến hết 31.12.2023 đối với việc xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là cá nhân hoặc quy định về thời gian phân phối trái phiếu của từng đợt phát hành, hoặc quy định về kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu là rất cần thiết góp phần củng cố niềm tin vào thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Đồng thời tháo gỡ được vướng mắc, ách tắc về đầu vào của doanh nghiệp phát hành trái phiếu và nhất là cho đầu ra của thị trường trái phiếu khi tạo điều kiện thuận lợi hơn để nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu tư trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ từ nay đến cuối năm 2023.

Các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp bất động sản phải rất nỗ lực để tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cơ cấu đầu tư, tái cơ cấu sản phẩm theo hướng phát triển các phân khúc nhà ở đáp ứng nhu cầu thực, có tính thanh khoản cao như nhà ở giá vừa túi tiền. Nhất là tích cực tham gia chương trình phát triển 1 triệu căn nhà ở xã hội từ nay đến năm 2030. Đi đôi với việc thực hiện khuyến mãi, tăng chiết khấu, giảm giá bán nhà theo phương châm chấp nhận “bán lỗ để cắt lỗ” để có dòng tiền, có thanh khoản trong tình hình rất khó khăn của thị trường bất động sản hiện nay, để tồn tại rồi mới tìm cơ hội phát triển trở lại.

Theo HoREA, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp bất động sản đáo hạn trong 2 năm 2023 – 2024 rất lớn, khoảng 230.000 tỉ đồng. Trong đó năm 2023 khoảng 119.000 tỉ đồng, năm 2024 khoảng 111.000 tỉ đồng. Nên Nghị định số 08 sẽ tác động rất tích cực và hiệu quả đến việc xử lý 119.000 tỉ đồng trái phiếu đến hạn trong năm 2023.

Tuy nhiên, việc xử lý trái phiếu đến hạn phải được sự đồng thuận của các trái chủ với doanh nghiệp thông qua đàm phán thỏa thuận nên mất rất nhiều thời gian, mà hiện nay chỉ còn gần 9 tháng để thực hiện Nghị định số 08. Do vậy, đề nghị Bộ Tài chính và Thủ tướng Chính phủ xem xét cho phép sơ kết đánh giá kết quả thực hiện Nghị định số 08 vào khoảng đầu quý 4/2023 để tiếp tục xây dựng thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển theo hướng minh bạch, lành mạnh, an toàn và bền vững trong năm 2024 và những năm tiếp theo.

Nguồn: Báo Thanh niên

GCN

Đề xuất mới nhất về các trường hợp không được cấp “sổ đỏ”

Theo Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, có 5 trường hợp không được cấp “sổ đỏ”, trong đó có loại đất đã được đăng ký vào sổ địa chính nhưng đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

      Điều 144 Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi quy định các trường hợp không được cấp “sổ đỏ” gồm:

– Đất thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

– Đất được giao để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của dự thảo Luật, trừ trường hợp: đất được giao sử dụng chung với đất được giao quản lý thì được chứng nhận phần quyền sử dụng theo quyết định giao, cho thuê của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

– Đất thuê, thuê lại của người sử dụng đất; đất nhận khoán, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng, phù hợp với dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

– Đất đã được đăng ký vào sổ địa chính, nhưng đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp đã quá 3 năm kể từ thời điểm có quyết định thu hồi đất mà không thực hiện;

– Tổ chức, UBND cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm công trình giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

      Trong khi đó, theo quy định hiện hành (Điều 19 Nghị định 43/2014/NĐ-CP) có tới 7 trường hợp không được cấp “sổ đỏ”, đó là:

– Tổ chức, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất để quản lý thuộc các trường hợp quy định tại Điều 8 của Luật Đất đai;

– Người đang quản lý, sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

– Người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

– Người nhận khoán đất trong các nông trường, lâm trường, doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng;

– Người đang sử dụng đất không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

– Người sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đã có thông báo hoặc quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Tổ chức, UBND cấp xã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích xây dựng công trình công cộng gồm đường giao thông, công trình dẫn nước, dẫn xăng, dầu, khí; đường dây truyền tải điện, truyền dẫn thông tin; khu vui chơi giải trí ngoài trời; nghĩa trang, nghĩa địa không nhằm mục đích kinh doanh.

LDD (2)

NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG TẠI DỰ THẢO LUẬT ĐẤT ĐAI (SỬA ĐỔI)

Tờ trình của Chính phủ ngày 01/11 nêu 11 điểm mới của dự thảo luật, trong đó sẽ xin ý kiến Quốc hội về ba nội dung nhạy cảm, còn nhiều quan điểm khác nhau.

– Quy định cụ thể về đấu giá đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất

Trong chương Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (SDĐ), ban soạn thảo đã dành riêng một mục để quy định cụ thể về đấu giá đất gồm cả đất đã “sạch” và đất chưa “sạch” và đấu thầu các dự án có SDĐ.

Theo đó, đất đem ra đấu giá phải đảm bảo nhiều điều kiện. Đối với đất đã bồi thường, giải phóng mặt bằng xong thì phải có trong kế hoạch SDĐ hằng năm cấp huyện, đã có quy hoạch chi tiết 1/500, thuộc quỹ đất để đấu giá và một số quy định khác.

Trong trường hợp đấu giá quyền SDĐ mà đất chưa bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (TĐC) thì ngoài các điều kiện nêu trên, cần phải được sự đồng ý của 100% người bị thu hồi đất về phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC.

Dự thảo luật cũng quy định về điều kiện đối với các tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá quyền SDĐ và đấu thầu dự án có SDĐ. Cùng với đó, dự thảo quy định một trong những trách nhiệm của UBND cấp tỉnh là hằng năm phải công bố kế hoạch, danh mục các khu đất thực hiện đấu giá, đấu thầu.

Ngoài quy định tại Luật Đất đai thì việc đấu giá, đấu thầu còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành như Luật Đấu giá tài sản, Luật Đấu thầu… Có thể thấy xuất phát từ rất nhiều bất cập trong thực tiễn thực hiện đấu giá quyền SDĐ và đấu thầu dự án có SDĐ trong thời gian qua, dự thảo luật lần này đã quy định cụ thể, chi tiết hơn so với Luật Đất đai hiện hành.

– Được thế chấp, bán, cho thuê, góp vốn tài sản gắn liền với quyền thuê đất

Một trong những điểm mới quan trọng khác của dự thảo luật là việc cho phép các tổ chức, cá nhân thuê đất của Nhà nước với hình thức trả tiền hằng năm sẽ được phép bán, cho thuê, thế chấp, góp vốn đối với tài sản của mình gắn liền với quyền thuê đất trong hợp đồng thuê đất với Nhà nước.

Luật Đất đai hiện hành chỉ quy định Nhà nước cho thuê đất trả tiền hằng năm hoặc một lần cho cả thời gian thuê cùng với đối tượng có liên quan. Tại dự thảo luật sửa đổi, cơ quan soạn thảo đã quy định cụ thể các trường hợp thuê đất trả tiền một lần và thuê đất trả tiền hằng năm.

Dự thảo luật cũng đã nêu các điều kiện để được bán, cho thuê và cả điều kiện của bên nhận chuyển nhượng. Cụ thể là tài sản đó phải đảm bảo ba điều kiện: Tạo lập hợp pháp; đã hoàn thành việc xây dựng đúng theo quy hoạch xây dựng chi tiết và dự án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận; đối tượng được Nhà nước cho thuê đất đã ứng trước tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng mà chưa khấu trừ hết vào tiền thuê đất phải nộp.

Theo cơ quan soạn thảo, việc đưa nội dung này vào dự thảo luật lần này chính là việc thể chế hóa tinh thần Nghị quyết 18 của Ban chấp hành Trung ương về “đẩy mạnh thương mại hóa quyền SDĐ”, qua đó làm tăng hiệu quả SDĐ.

Trong tờ trình của Chính phủ nhận định đây cũng là một trong những nội dung mà trong quá trình thảo luận còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến đề nghị không quy định nội dung này vào dự thảo luật vì nếu quy định như vậy sẽ thiếu công bằng giữa các trường hợp thuê đất trả tiền một lần và thuê đất trả tiền hằng năm. Bên cạnh đó, nhà đầu tư có thể lợi dụng chính sách này để vay vốn ngân hàng nhưng không có khả năng trả nợ, dẫn đến mất an toàn hệ thống tín dụng. Thậm chí có tình trạng lợi dụng để chuyển nhượng mà không có đầu tư. Vì vậy, Chính phủ sẽ xin ý kiến của QH.

– Người bị thu hồi đất được lựa chọn nhiều hình thức bồi thường

Dự thảo luật đã quy định cụ thể điều kiện, tiêu chí, các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Cùng với đó là trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC để công khai, minh bạch trong thực thi và giám sát.

Đặc biệt, dự thảo luật cũng đa dạng hóa hình thức bồi thường: Bằng đất có cùng mục đích với đất bị thu hồi; hoặc bằng tiền, bằng đất khác; hoặc bằng nhà ở để người dân có nhiều lựa chọn. Giá đất bồi thường theo giá thị trường; tách bạch các khoản bồi thường, các khoản hỗ trợ, đồng thời quy định công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC phải đi trước một bước khi quyết định thu hồi đất.

Dự thảo luật cũng đã cụ thể hóa nguyên tắc người bị thu hồi đất “có chỗ ở, thu nhập và điều kiện sống tốt hơn nơi ở cũ” theo tinh thần Nghị quyết 18 của Ban chấp hành Trung ương. Điều này được thể hiện thông qua quy định các tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, địa điểm TĐC theo thứ tự ưu tiên (tại chỗ; trên cùng địa bàn xã, phường; địa bàn tương đồng)…

11 điểm mới của dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tại tờ trình QH, Chính phủ đã nêu ra 11 điểm mới của dự thảo luật. Trong đó, Chính phủ xin ý kiến QH về ba nội dung: Mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền SDĐ nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân lên 15 lần so với hạn mức được giao; mở rộng đối tượng nhận chuyển nhượng quyền SDĐ trồng lúa; quy định về cho phép chuyển nhượng, thế chấp quyền thuê trong hợp đồng thuê đất trả tiền hằng năm.

Theo Chính phủ, đây là những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người SDĐ còn nhiều ý kiến khác nhau khi thảo luận.

Tám nội dung mới khác trong dự thảo lần này bao gồm: Quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của Nhà nước cũng như quyền, nghĩa vụ của công dân đối với đất đai; hoàn thiện các quy định về quyền của người SDĐ, quy hoạch, kế hoạch SDĐ; giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích SDĐ; chính sách tài chính đất đai, giá đất; phát triển quỹ đất, thị trường quyền SDĐ; quản lý SDĐ nông nghiệp; quản lý SDĐ đa mục đích; về chuyển đổi số và cải cách hành chính; về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.

GUQ

Chỉ chứng thực Giấy ủy quyền trong 4 trường hợp

Tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu chứng thực Giấy ủy quyền có thể đến Ủy ban, phòng công chứng hoặc văn phòng công chứng để thực hiện trong bốn trường hợp.

Hiện nay, việc chứng thực Giấy ủy quyền được thực hiện theo quy định tại Nghị định 23/2015 và Thông tư 01/2020 của Bộ Tư pháp.

Theo đó, khi tổ chức, cá nhân có nhu cầu chứng thực Giấy ủy quyền thì sẽ thực hiện thủ thục chứng thực chữ ký nếu nội dung Giấy ủy quyền thỏa mãn đầy đủ các điều kiện như không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản và thuộc một trong bốn trường hợp sau:

– Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền.

– Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp.

– Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa.

– Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

Lưu ý, đối với việc ủy quyền không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì không được yêu cầu chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền; người yêu cầu chứng thực phải thực hiện các thủ tục theo quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch.

Khi thực hiện chứng thực, cơ quan có thẩm quyền cần đảm bảo lời chứng phải ghi ngay phía dưới chữ ký được chứng thực hoặc trang liền sau của trang giấy tờ, văn bản có chữ ký được chứng thực. Trường hợp lời chứng được ghi tại tờ liền sau của trang có chữ ký thì phải đóng dấu giáp lai giữa giấy tờ, văn bản chứng thực chữ ký và trang ghi lời chứng.

Trường hợp giấy tờ, văn bản có nhiều người ký thì phải chứng thực chữ ký của tất cả những người đã ký trong giấy tờ, văn bản đó.

thu-tuc-chuyen-doi-tu-dat-nong-nghiep-sang-dat-o-1-e1563856574174

Điều kiện, thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng tại 4 tỉnh, thành phố

Ngày 06/4/2022, Thủ tướng ban hành Quyết định 10/2022/QĐ-TTg quy định trình tự, thủ tục chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ 02 vụ trở lên với quy mô dưới 500 ha; đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ đầu nguồn dưới 50 ha trên địa bàn Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa, Cần Thơ, cụ thể như sau:

  1. Về điều kiện để được chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư:

– Dự án đầu tư có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 1 Quyết định 10/2022.
Đơn cử như chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ 02 vụ trở lên với quy mô dưới 500 ha trên địa bàn TP.Hải Phòng, TP.Cần Thơ.
– Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt và các quy hoạch khác có liên quan theo quy định của pháp luật.
– Đã được chấp thuận đầu tư theo quy định của pháp luật mà văn bản chấp thuận còn hiệu lực đến thời điểm đề xuất; đối với dự án phải thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật đất đai thì phải được HĐND cấp tỉnh thông qua.
– Có Phương án trồng rừng thay thế và đảm bảo kinh phí trồng rừng thay thế được xác định trong tổng mức đầu tư của dự án đối với dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp hoặc văn bản hoàn thành trách nhiệm nộp tiền trồng rừng thay thế hoặc phương án sử dụng tầng đất mặt theo quy định của pháp luật về trồng trọt.

  1. Về thủ tục

          Nhà đầu tư, chủ đầu tư dự án có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất đăng ký nhu cầu sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổng hợp gửi Sở Tài nguyên và Môi trường để thực hiện các thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất. Đối với trường hợp dự án thực hiện trên địa bàn từ 2 huyện trở lên thì chủ đầu tư, nhà đầu tư đăng ký trực tiếp với Sở Tài nguyên và Môi trường nơi thực hiện dự án.

          Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân đề nghị chuyển mục đích sử dụng đất. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ để thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các tổ chức có nhu cầu sử dụng đất, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã nơi có đất lấy ý kiến theo quy định.
          Hồ sơ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có: Tờ trình Hội đồng nhân dân về việc chuyển mục đích sử dụng đất; danh mục dự án có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất; trích lục bản đồ khu vực chuyển mục đích sử dụng đất có xác nhận của Sở Tài nguyên và Môi trường.

           Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức thẩm định việc chuyển mục đích sử dụng đất. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn không quá 2 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo cho Sở Tài nguyên và Môi trường.

          Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận được ý kiến thẩm định, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giải trình, tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, chấp thuận.

          Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận chuyển mục đích sử dụng đất.

          Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định chấp thuận cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.

          Sau khi có văn bản chấp thuận của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.
Quyết định 10/2022/QĐ-TTg có hiệu lực ngày 06/4/2022.

GCNQSDD

Lưu ý: Những thông tin không thể bỏ qua trong sổ đỏ khi mua đất

          Sổ đỏ là cách người dân thường dùng để gọi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Đây là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người dân. Những thông tin quan trọng về nhà đất đều có trong sổ đỏ nên khi có ý định mua bán, người dân cần xem xét kỹ càng tránh “ôm hận”.

Diện tích đất

          Diện tích thửa đất ghi trong sổ đỏ là căn cứ quan trọng nhất liên quan đến việc tính toán giá tiền chuyển nhượng đất. Hiện nay, có những mảnh đất diện tích sử dụng lớn hơn diện tích trong sổ đỏ. Ngược lại, có những mảnh đất diện tích sử dụng thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trong sổ đỏ. Do đó, trước khi giao dịch, người mua nên tiến hành đo đạc lại diện tích để xác định giá mua bán phù hợp.

Mục đích sử dụng đất

          Pháp luật quy định người dân phải sử dụng đất theo đúng mục đích. Nếu muốn thay đổi mục đích sử dụng đất thì phải được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền. Với những mảnh đất có mục đích sử dụng khác nhau thì giá trị chuyển nhượng, nghĩa vụ tài chính như thuế, tiền sử dụng đất trong quá trình sử dụng là khác nhau. Vì vậy, khi mua đất, bạn cần xem kỹ mục đích sử dụng đất.

          Hiện nay, mục đích sử dụng đất chia thành 2 nhóm là nhóm đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm, đất chuyên trồng lúa nước, đất rừng sản xuất…) và nhóm đất phi nông nghiệp (đất ở tại đô thị, đất ở tại nông thôn, đất thương mại, dịch vụ…). Một thửa đất có thể có một mục đích hoặc nhiều mục đích sử dụng. Các thông tin này đều được ghi rõ ở trang thứ 2 của sổ đỏ. Việc xem kỹ thông tin mục đích sử dụng đất sẽ giúp bạn tránh mua nhầm loại đất.

Thời hạn sử dụng

          Thời hạn sử dụng đất là khoảng thời gian mà người sử dụng đất được thực hiện các quyền của mình. Thời hạn sử dụng đất được chia thành 2 loại là: Đất sử dụng ổn định lâu dài và đất sử dụng có thời hạn (30 năm, 50 năm, 70 năm…).

          Trong đó, đất sử dụng ổn định lâu dài là đất mà người chủ được sử dụng liên tục, không xác định thời hạn cụ thể của việc chấm dứt quyền sử dụng đất. Đất có thời hạn sử dụng là những mảnh đất mà người chủ chỉ được sử dụng trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn này, đất có thể bị Nhà nước thu hồi hoặc được gia hạn để tiếp tục sử dụng.

          Hiện nay, một trong những điều kiện để người sử dụng đất có thể thực hiện việc chuyển nhượng là đất phải còn thời hạn sử dụng. Thời hạn sử dụng đất khác nhau sẽ dẫn tới quyền, nghĩa vụ khác nhau. Ví dụ như đất có thời hạn sử dụng, nếu hết thời hạn và có nhu cầu tiếp tục sử dụng nhưng Nhà nước không chấp nhận gia hạn thì sẽ bị thu hồi. Do vậy, khi mua đất, cần xem xét kỹ thông tin này.

Hình thức sử dụng của mảnh đất

          Hình thức sử dụng đất được chia thành 2 loại là “sử dụng chung” và “sử dụng riêng”. Hình thức sử dụng đất chỉ ra ai là người có quyền sử dụng đất và quyền quyết định khi thực hiện chuyển nhượng.

          Với mảnh đất “sử dụng riêng” thì người sử dụng đất có toàn quyền quyết định việc sử dụng, chuyển nhượng. Với mảnh đất “sử dụng chung” thì khi có ý định chuyển nhượng phải có sự thỏa thuận, đồng tình của tất cả những người đồng sở hữu.

          Hình thức sử dụng đất là thông tin rất quan trọng cần chú ý khi nhận chuyển nhượng, nhằm tránh những rắc rối pháp lý không đáng có.

ho-so-nhan-ho-tro-tien-thue-nha

Người lao động nhận tiền hỗ trợ thuê nhà như thế nào?

    Theo Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ, có hai đối tượng được nhận hỗ trợ tiền thuê nhà gồm: NLĐ đang làm việc trong doanh nghiệp và NLĐ trở lại làm việc với mức 500.000 đồng/người/tháng và 1.000.000 đồng/người/tháng. Cụ thể:

          HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐANG LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP

Đối tượng: NLĐ đang làm việc trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm (Trong đó có Hà Nội và TPHCM).

Điều kiện hỗ trợ:

– Đang ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 01/02/2022 đến ngày 30/06/2022.

– Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1 tháng trở lên được giao kết và thực hiện trước ngày 01/04/2022.

– Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

     Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP thì phải có tên trong danh sách trả lương của doanh nghiệp của tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Mức hỗ trợ: 500.000 đồng/người/tháng.

Thời gian hỗ trợ: Tối đa 3 tháng.

Phương thức chi trả: Hằng tháng.

Hồ sơ đề nghị hỗ trợ:

Danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 02 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định 08.

Trường hợp trong danh sách có người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì hồ sơ đề nghị cần có thêm bản sao danh sách trả lương của tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

          HỖ TRỢ NGƯỜI LAO ĐỘNG QUAY TRỞ LẠI THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

Đối tượng: NLĐ đang làm việc trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm.

Điều kiện hỗ trợ:

– Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 01/04/2022 đến ngày 30/06/2022.

– Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 01 tháng trở lên được giao kết và thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 01/04/2022 đến ngày 30/06/2022, trừ hợp đồng lao động giao kết tiếp nối của hợp đồng lao động đã giao kết và thực hiện trước đó.

– Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

     Trường hợp NLĐ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, người lao động mới tuyển dụng và có giao kết hợp đồng lao động nhưng chưa có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội thì phải có tên trong danh sách trả lương của người sử dụng lao động của tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Mức hỗ trợ: 1.000.000 đồng/người/tháng

Thời gian hỗ trợ: Tối đa 3 tháng.

Phương thức chi trả: Hằng tháng.

Hồ sơ đề nghị hỗ trợ:

     Danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội theo Mẫu số 03 tại Phụ lục ban hành kèm theo Quyết định 08.

     Trường hợp trong danh sách có người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động mới tuyển dụng và có giao kết hợp đồng lao động nhưng chưa có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội thì hồ sơ đề nghị hỗ trợ cần có thêm bản sao danh sách trả lương của tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

          TRÌNH TỰ THỰC HIỆN

  1. NLĐ đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà theo Mẫu số 01 hoặc Mẫu số 03 (Theo đối đượng được hỗ trợ) để gửi người sử dụng lao động tổng hợp.
  2. Doanh nghiệp tổng hợp danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà theo mẫu số 02 và niêm yết công khai tại nơi làm việc (ít nhất 3 ngày làm việc). Nếu có khiếu nại, thêm 2 ngày xác minh.
  3. Doanh nghiệp gửi danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà theo mẫu số 02 đến cơ quan bảo hiểm xã hội để xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Thời gian 2 ngày làm việc, cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động.
  4. Doanh nghiệp gửi hồ sơ theo quy định đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đặt trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm sản xuất, kinh doanh.

Trường hợp người sử dụng lao động là hộ kinh doanh thì gửi kèm theo đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà của người lao động theo Mẫu số 01.

Thời gian tiếp nhận hồ sơ chậm nhất đến hết ngày 15 tháng 8 năm 2022.

  1. Trong 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, UBND cấp huyện thẩm định trình UBND cấp tỉnh.
  2. Trong 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, UBND cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách và kinh phí hỗ trợ; đồng thời chỉ đạo thực hiện chi trả hỗ trợ.

Trường hợp không phê duyệt, UBND cấp tỉnh thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

  1. Trong 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kinh phí hỗ trợ của UBND cấp tỉnh, người sử dụng lao động thực hiện chi trả cho người lao động.

 

 

 

Fanpage

Định Cư Mỹ Diện Trí Thức

EB2 Advanced Degree, EB3 Professional là hai chương trình định cư Mỹ diện lao động trí thức, công ty tại Mỹ bảo lãnh Thẻ Xanh để cá nhân đến Mỹ làm việc và định cư hợp pháp 100% theo luật Di Trú Mỹ.

  • Visa diện EB2 Advanced Degree (Diện Bằng Cấp Cao) là chương trình định cư, cho phép người có bằng Tiến sĩ, Thạc sĩ hoặc Cử nhân (Cử nhân có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc đúng chuyên ngành) làm việc và sinh sống lâu dài tại Mỹ.
  • Visa diện EB3 Professional (Chuyên gia) là visa định cư và làm việc tại Mỹ dành cho người có học vị từ Cử nhân trở lên (không yêu cầu kinh nghiệm làm việc).

Khi làm hồ sơ theo hai diện này, đương đơn có cơ hội đến Mỹ làm việc và định cư vĩnh viễn. Đây không phải chương trình xuất khẩu lao động.

ĐỐI TƯỢNG PHÙ HỢP

  • Cá nhân có bằng Cử nhân trở lên (bằng Đại học / Thạc sĩ / Tiến sĩ)
  • Du học sinh Mỹ (visa F-1)
  • Người sở hữu visa không định cư (H-1B, L1,…)

ƯU ĐIỂM KHI ĐỊNH CƯ MỸ DIỆN TRÍ THỨC

  • Đương đơn đến Mỹ lấy Thẻ Xanh vĩnh viễn và được làm việc đúng chuyên môn.
  • Không phải làm các công việc nặng nhọc.
  • Được hưởng chế độ An sinh Xã hội như công dân Mỹ.
  • Bảo lãnh vợ/chồng và con cái dưới 21 tuổi (độc thân) cùng nhận Thẻ Xanh với chi phí không đổi.
  • Con cái học tập miễn phí đến hết bậc THPT.
  • Có thể đăng ký nhập quốc tịch Mỹ sau 5 năm cư trú.

ĐIỀU KIỆN ĐỊNH CƯ MỸ DIỆN TRÍ THỨC

  • Các cá nhân sở hữu bằng cấp: Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân.
  • Bằng cấp tại Việt Nam vẫn có thể phù hợp với chương trình.
  • Giao tiếp tiếng Anh tốt.
  • Đối với diện EB2 Advanced Degree: Thạc sĩ, Tiến sĩ không yêu cầu kinh nghiệm, riêng Cử nhân cần có tối thiểu 5 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực liên quan đến chuyên ngành.
  • Đối với diện EB3 Professional: Đương đơn không cần phải có kinh nghiệm làm việc.
  • Có nhà tuyển dụng tại Mỹ bảo lãnh công việc đúng với chuyên ngành (US Direct IMM sẽ hỗ trợ bạn tìm nhà tuyển dụng).

TÀI LIỆU CẦN CHUẨN BỊ

Để có thể đánh giá sơ lược về hồ sơ, Anh/Chị vui lòng chuẩn bị những giấy tờ sau:

  • Bản tóm tắt quá trình làm việc (CV), giấy xác nhận công việc hiện tại.
  • Hộ chiếu.
  • Bằng cấp, bảng điểm.

THỦ TỤC ĐỊNH CƯ MỸ DIỆN TRÍ THỨC

NẾU ĐĂNG KÝ TẠI VIỆT NAM:

  • Bước 1: Người sử dụng lao động xác nhận nhu cầu tuyển dụng.
  • Bước 2: Bộ Lao động Mỹ tiếp nhận và xử lý hồ sơ Chứng nhận Lao động LC (có thể bị kiểm định).
  • Bước 3: Sở Di trú tiếp nhận và xử lý Đơn I-140 (Xử lý hồ sơ nhanh: 15 ngày).
  • Bước 4: Trung tâm Thị thực Quốc gia (NVC) tiếp nhận và xử lý đơn.
  • Bước 5: Phỏng vấn và chờ kết quả.
  • Bước 6: Đến Mỹ và nhận Thẻ Xanh.

NẾU ĐIỀU CHỈNH TÌNH TRẠNG CƯ TRÚ TẠI MỸ:

  • Bước 1: Người sử dụng lao động xác nhận nhu cầu tuyển dụng.
  • Bước 2: Bộ Lao động Mỹ tiếp nhận và xử lý hồ sơ Chứng nhận Lao động LC (có thể bị kiểm định).
  • Bước 3: Sở Di trú tiếp nhận và xử lý Đơn I-140 (Xử lý hồ sơ nhanh: 15 ngày).
  • Bước 4: Nộp đơn điều chỉnh tình trạng cư trú (I-485).
  • Bước 5:  Phỏng vấn và chờ kết quả.
  • Bước 6: Nhận Thẻ Xanh.

* Lưu ý: Thời gian ước tính từ 2 – 2,5 năm và có thể thay đổi tùy tình trạng của đương đơn hoặc Chính phủ Mỹ.

GCN

Người nước ngoài có được cấp sổ hồng không?

Câu hỏi: Tôi là người Việt Nam, chồng tôi là người nước ngoài. Khi tôi mua đất, chồng tôi có được đứng tên trên Giấy chứng nhận không?

Trả lời:

          Người sử dụng đất có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Theo Điều 5 Luật đất đai 2013,  trường hợp là cá nhân thì người sử dụng đất gồm cá nhân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Theo đó, người nước ngoài không thuộc đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Căn cứ vào quy định trên, chồng bạn không được cùng mua đất và cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận.

          Trường hợp chồng bạn muốn ghi tên trên Giấy chứng nhận đối với bất động sản thì có thể tham khảo quy định về người nước ngoài mua nhà tại Việt Nam. Theo quy định tại điểm c, Khoản 1, Điều 159; Khoản 3 Điều 160 Luật nhà ở 2014, cá nhân nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật có thể sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua việc mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại.

          Bạn có thể tham khảo danh mục các dự án đầu tư xây dựng nhà ở và số lượng nhà ở (bao gồm cả căn hộ, nhà ở riêng lẻ) mà người nước ngoài được sở hữu tại mỗi dự án; số lượng căn hộ chung cư tại mỗi tòa nhà chung cư, số lượng nhà ở riêng lẻ của mỗi dự án mà người nước ngoài được sở hữu trên Cổng thông tin điện tử của Sở Xây dựng. (Khoản 23 Điều 1 Nghị định 30/2021/NĐ-CP sửa đổi điểm a, b Khoản 1 Điều 76 Nghị định 99/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật nhà ở).

          Ngoài ra, người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam thì được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. (Điểm c, Khoản 2, Điều 161 Luật Nhà ở).

          Tuy nhiên, Luật đất đai không cho phép người nước ngoài mua đất tại Việt Nam như đã nêu trên nên hiện nay việc cấp Giấy chứng nhận nhà ở và đất ở cho người nước ngoài khi mua nhà ở riêng lẻ từ chủ đầu tư vẫn chưa được giải quyết. Do đó, trường hợp bạn muốn cùng chồng đứng tên trên Giấy chứng nhận thì có thể mua căn hộ chung cư.