Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2026? Hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân nộp qua đâu?

Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tiểu mục 2 Mục 2 Phần II Công văn 1296/CT-NVT năm 2026 quy định như sau:

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người nộp thuế có thể chủ động thực hiện quyết toán thuế TNCN mọi lúc, mọi nơi, cơ quan thuế đã triển khai các ứng dụng và dịch vụ điện tử hỗ trợ kê khai, nộp hồ sơ trực tuyến. Cá nhân có thể thực hiện quyết toán thông qua các hệ thống sau:

+ Hệ thống Thông tin giải quyết thủ tục hành chính Cục Thuế – Bộ Tài chính: https://dichvucong.gdt.gov.vn/tthc/homelogin.

+ Ứng dụng eTax Mobile.

+ Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Hình thức nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN đối với tổ chức, cá nhân trả thu nhập từ tiền lương, tiền công theo tiểu mục 1 Mục 2 Phần II Công văn 1296/CT-NVT năm 2026 quy định như sau:

Để tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập trong việc kê khai và nộp hồ sơ, tổ chức, cá nhân trả thu nhập có thể nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN trực tuyến tại hệ thống các ứng dụng, dịch vụ sau:

+ Hệ thống Thông tin giải quyết thủ tục hành chính Cục Thuế – Bộ Tài chính: https://dichvucong.gdt.gov.vn/tthc/homelogin.

+ Thông qua các tổ chức cung cấp dịch vụ, giao dịch điện tử trong lĩnh vực Thuế (T-VAN)

Thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế TNCN năm 2026 là khi nào?

Hạn chót quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 được quy định tại Điều 44 Luật Quản lý thuế 2019, cụ thể như sau:

Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế

…

2. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm được quy định như sau:

a) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ quyết toán thuế năm; chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ khai thuế năm;

b) Chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng thứ 4 kể từ ngày kết thúc năm dương lịch đối với hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân của cá nhân trực tiếp quyết toán thuế;

…

Theo đó, hạn chót quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 được quy định như sau:

(1) Ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế

– Trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện quyết toán thuế: Hạn chót quyết toán thuế TNCN là ngày 31/3/2026 (Thứ Ba).

(2) Cá nhân trực tiếp quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế

– Trường hợp cá nhân trực tiếp quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế: Chậm nhất ngày 30/4/2026 (Thứ 5) cá nhân phải quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Tuy nhiên, lịch nghỉ lễ ngày 30/4/2026 và 1/5/2026 được kéo dài 04 ngày liên tục từ thứ Năm ngày 30/4/2026 đến hết Chủ nhật ngày 03/5/2026. Do đó, hạn chót quyết toán thuế sẽ lùi đến ngày 04/5/2025 (Thứ Hai).

Như vậy, thời hạn quyết toán thuế TNCN năm 2025 trong năm 2026 là ngày 31/3/2026 đối với trường hợp ủy quyền cho tổ chức quyết toán, hạn chót là 04/5/2026 đối với trường hợp cá nhân tự quyết toán.

NGUỒN: https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/hinh-thuc-nop-ho-so-quyet-toan-thue-tncn-nam-2026-ho-so-quyet-toan-thue-thu-nhap-ca-nhan-nop-qua-da-775366-257694.html

Bàn về chế định “đặt cọc” trong giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì tài sản dùng để đặt cọc là “tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác”. Kim khí quý, đá quý về bản chất là những vật có giá trị. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản gồm 4 loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Như vậy, tài sản dùng để đặt cọc nói chung bao gồm 2 loại là tiền và vật.

Ảnh minh họa

Đối với tiền dùng làm tài sản đặt cọc gồm tiền Việt Nam (đồng nội tệ) và tiền nước ngoài (ngoại tệ). Tiền Việt Nam có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc trong mọi giao dịch giữa cá nhân, pháp nhân với nhau. Ngoại tệ chỉ có thể được sử dụng làm tài sản đặt cọc giữa chủ sở hữu ngoại tệ với tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác được phép giao dịch ngoại tệ mà không được sử dụng để đặt cọc cho cá nhân, pháp nhân khác vì rất có thể sẽ bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật (điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015).

Theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định: “Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”. Mặc dù Pháp lệnh Ngoại hối do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành không phải là “Luật” nhưng quan điểm liên quan đến sử dụng ngoại hối như trên còn được ghi nhận tại Điều 8 và Điều 105 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo đó, tại Điều 105 quy định “ngoại hối” là một trong các sản phẩm ngân hàng thương mại được kinh doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài sau khi được chấp thuận bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước. Mặt khác, khoản 2 Điều 8 quy định: “Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”.

Đối với vật dùng làm tài sản đặt cọc thì không phải tất cả vật đều có thể sử dụng để đặt cọc mà xuất phát từ yêu cầu để có thể bảo đảm được cho việc thực hiện nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng thì chỉ có “vật có giá trị” mới có thể được các bên đồng ý dùng làm tài sản đặt cọc. Đồng thời “vật có giá trị” dùng để đặt cọc cũng phải không thuộc trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan cấm mua bán, cấm chuyển nhượng hoặc cấm chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập biện pháp đặt cọc.

Tuy pháp luật không cấm việc đặt cọc bằng bất động sản, nhưng so sánh với các quy định về tài sản cầm cố, thế chấp thì có thể hiểu bất động sản cũng không thể là tài sản dùng để đặt cọc.

Hợp đồng đặt cọc có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về đặt cọc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng chính.

Hiện nay, theo quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP đều không có quy định về việc hợp đồng đặt cọc buộc phải lập thành văn bản, công chứng, chứng thực và đăng ký biện pháp bảo đảm, vì vậy, chỉ cần đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng đặt cọc sẽ có hiệu lực ràng buộc trách nhiệm giữa các bên kể từ thời điểm theo các bên thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận thì hợp đồng đặt cọc có hiệu lực tại thời điểm giao kết hợp đồng và phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận đặt cọc nắm giữ tài sản

đặt cọc.

Điểm khác biệt lớn nhất của đặt cọc so với các biện pháp bảo đảm khác là, nếu bên nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ thì phải trả cho bên kia (phạt cọc) gấp đôi số tiền đặt cọc (gồm tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đạt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

NGUỒN: https://baophapluat.vn/ban-ve-che-dinh-dat-coc-trong-giao-dich-dan-su.html

Nghỉ lễ 30/4 năm 2025 mấy ngày? Tính lương làm thêm vào ngày 30/4 năm 2025 thế nào?

Căn cứ theo Điều 112 Bộ luật Lao động 2019 quy định như sau:

Nghỉ lễ, tết

1. Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong những ngày lễ, tết sau đây:

a) Tết Dương lịch: 01 ngày (ngày 01 tháng 01 dương lịch);

b) Tết Âm lịch: 05 ngày;

c) Ngày Chiến thắng: 01 ngày (ngày 30 tháng 4 dương lịch);

d) Ngày Quốc tế lao động: 01 ngày (ngày 01 tháng 5 dương lịch);

đ) Quốc khánh: 02 ngày (ngày 02 tháng 9 dương lịch và 01 ngày liền kề trước hoặc sau);

e) Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương: 01 ngày (ngày 10 tháng 3 âm lịch).

2. Lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài các ngày nghỉ theo quy định tại khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.

3. Hằng năm, căn cứ vào điều kiện thực tế, Thủ tướng Chính phủ quyết định cụ thể ngày nghỉ quy định tại điểm b và điểm đ khoản 1 Điều này.

Theo quy định Bộ luật Lao động 2019, người lao động sẽ được nghỉ lễ 30/4 năm 2025 1 ngày.

Mặt khác, tại Mục 3, 7 Thông báo 6150/TB-BLĐTBXH năm 2024 trong đó có quy định như sau:

…

3. Công chức, viên chức được hoán đổi ngày làm việc từ thứ Sáu ngày 02/5/2025 sang thứ Bảy ngày 26/4/2025. Như vậy, dịp nghỉ lễ ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 01/5 năm 2025 công chức, viên chức được nghỉ 05 ngày liên tục từ thứ Tư ngày 30/4/2025 đến hết Chủ nhật ngày 04/5/2025 (làm bù vào thứ Bảy ngày 26/4/2025).

…

7. Đối với người lao động không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Thông báo này, người sử dụng lao động quyết định lựa chọn phương án nghỉ tết Âm lịch, nghỉ lễ Quốc khánh, nghỉ lễ ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 01/5 năm 2025 như sau:

…

– Nếu ngày nghỉ hằng tuần trùng với ngày nghỉ lễ, tết quy định tại khoản 1 Điều 112 của Bộ luật Lao động thì người lao động được nghỉ bù ngày nghỉ hằng tuần vào ngày làm việc kế tiếp theo quy định tại khoản 3 Điều 111 Bộ luật Lao động.

– Khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng thời gian nghỉ tết Âm lịch, nghỉ lễ Quốc khánh, nghỉ lễ ngày Chiến thắng 30/4 và ngày Quốc tế lao động 01/5 năm 2025 cho người lao động như quy định đối với công chức, viên chức.

…

Theo đó, lịch nghỉ lễ 30 4 và 1 tháng 5 năm 2025 công chức, viên chức sẽ được nghỉ 05 ngày liên tục từ thứ Tư ngày 30/4/2025 đến hết Chủ nhật ngày 04/5/2025 (làm bù vào thứ Bảy ngày 26/4/2025).

Đối với người lao động không phải công chức, viên chức thì Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội khuyến khích người sử dụng lao động áp dụng lịch nghỉ lễ 30 4 năm 2025 và 1 tháng 5 năm 2025 theo như lịch nghỉ của công chức, viên chức để kéo dài ngày nghỉ cho người lao động.

 NGUỒN: https://thuvienphapluat.vn/lao-dong-tien-luong/nghi-le-30-4-nam-2025-may-ngay-tinh-luong-lam-them-vao-ngay-30-4-nam-2025-the-nao-36546.html

Quy định mới về dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường từ 14/02/2025

Ngày 30/12/2024, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm, trong đó thì việc dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường phải tuân thủ các quy định sau:

– Tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau:

+ Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật;

+ Công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT).

– Người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm.

– Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) về môn học, địa điểm, hình thức, thời gian tham gia dạy thêm (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT).

Xem thêm tại Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ 14/02/2025.

NGUỒN: https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/quy-dinh-ve-day-them-hoc-them-ngoai-nha-truong-tu-14-02-2025-theo-thong-tu-292024-the-nao-195719.html